TẦM QUAN TRỌNG DINH DƯỠNG CHO TRẺ MẦM NON

Song song với công tác giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các cơ sở giáo dục mầm non. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp một. Để trẻ phát triển cân đối, khỏe mạnh ngay từ những năm tháng đầu đời cần phải có một chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Thời gian hoạt động, ăn, ngủ của trẻ ở trường mầm non chiếm tỷ lệ khá lớn so với thời gian trong ngày. Vì vậy, cùng với gia đình, trường mầm non có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non cần có những kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ lứa tuổi mầm non

I. Tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng đối với sự phát triển của cơ thể Chất dinh dưỡng có vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khoẻ và sự phát triển của cơ thể. Chất dinh dưỡng bao gồm các chất sinh năng lượng và chất không sinh năng lượng. Các chất sinh năng lượng gồm chất đạm, chất béo và chất bột đường. Các chất không sinh năng lượng bao gồm các vitamin, các chất khoáng và nước.

1. Chất đạm

Chất đạm hay còn gọi là protid là chất dinh dưỡng quan trọng số một, được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Chất đạm có vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển các chất cơ bản của hoạt động sống; là nguyên vật liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể; là thành phần chính của các kháng thể giúp cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, thực hiện chức năng miễn dịch; là thành phần của các men và các nội tiết tố (hormon) rất quan trọng trong hoạt động chuyển hoá của cơ thể; có vai trò đặc biệt quan trọng trong di truyền, hình thành và hoàn thiện hệ thần kinh giúp cơ thể phát triển cả về trí tuệ và tầm vóc. Chất đạm còn là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể, 1gam protid cung cấp 4 KcalChất đạm có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, sữa, trứng, tôm, cua…và thức ăn có nguồn gốc thực vật như đậu, đỗ, lạc, vừng, gạo…
Trong bữa ăn hàng ngày, cần cân đối tỷ lệ chất đạm có nguồn gốc động vật và thực vật. Ở trẻ lứa tuổi mầm non tỷ lệ đạm động vật/đạm tổng số cần đạt ở mức từ 50 – 70% (tùy theo lứa tuổi).Chất đạm có nhiều trong thức ăn có nguồn gốc động vật như thịt, cá, sữa, trứng, tôm, cua…và thức ăn có nguồn gốc thực vật như đậu, đỗ, lạc, vừng, gạo…
Trong bữa ăn hàng ngày, cần cân đối tỷ lệ chất đạm có nguồn gốc động vật và thực vật. Ở trẻ lứa tuổi mầm non tỷ lệ đạm động vật/đạm tổng số cần đạt ở mức từ 50 – 70% (tùy theo lứa tuổi).

2. Chất béo

Chất béo hay còn gọi lipid là là nhóm chất dinh dưỡng chính và cần thiết cho sự sống, là nguồn cung cấp năng lượng và các acid béo cần thiết, là dung môi hòa tan và là chất mang của các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, vitamin D, vitamin E, vitamin K…, giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin này, làm tăng cảm giác ngon miệng. Đặc biệt chất béo là nguồn cung cấp năng lượng cao gấp hơn 2 lần so với chất đạm và chất bột đường, 1gam lipid cung cấp 9 Kcal

Chất béo nguồn gốc động vật gồm: sữa mẹ, mỡ, sữa, bơ, lòng đỏ trứng…
Thực phẩm có nguồn gốc thực vật có hàm lượng lipid cao là dầu thực vật, lạc, vừng, đậu tương, hạt điều, hạt dẻ, cùi dừa…

3. Chất bột đường

Chất bột đường hay còn gọi là glucid là nguồn cung cấp năng lượng chính cho cơ thể, tạo đà tốt cho sự phát triển của trẻ, 1gam glucid cung cấp 4 Kcal. Glucid tham gia cấu tạonên tế bào,các mô và điều hòa hoạt động của cơ thể.
Nguồn thực phẩm cung cấp chất bột đường chủ yếu từ ngũ cốc (gạo, bột mì, ngô, khoai, sắn, mì sợi, miến…), các loại hoa quả tươi có vị ngọt (chuối, táo, xoài, cam, củ cải đường …), đường, mật, bánh, kẹo…

4. Vitamin và khoáng chất

Vitamin và khoáng chất là những chất dinh dưỡng rất cần thiết cho cơ thể. Tuy hàng ngày chỉ cần một lượng rất ít, nhưng nếu thiếu sẽ gây ra tình trạng bệnh lý cho cơ thể.

Vitamin tham gia vào hầu hết các quá trình hoạt động của cơ thể, với vai trò chính như sau:

- Chức năng điều hòa tăng trưởng: vitamin A, vitamin E, vitamin C

- Chức năng phát triển tế bào biểu mô: vitamin A, vitamin D, vitamin C, vitamin B2, vitamin PP

- Chức năng miễn dịch: vitamin A, vitamin C

- Chức năng hệ thần kinh: vitamin nhóm B (B1,B2, B12, PP), vitamin E

- Chức năng nhìn: vitamin A

- Chức năng đông máu: vitamin K, vitamin C

- Chức năng bảo vệ cơ thể và chống lão hóa: vitamin A, vitamin E, beta caroten, vitamin C

Những vitamin đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của trẻ là vitamin A, vitamin C, vitamin D, vitamin nhóm B…

Những khoáng chất quan trọng với sức khỏe của trẻ là sắt, can xi, iod, axit folic, kẽm…
4.1. Vitamin A: Có vai trò trong quá trình tăng trưởng, giúp trẻ phát triển bình thường, tham gia vào chức năng nhìn, bảo vệ đôi mắt, chống bệnh quáng gà và khô mắt, bảo vệ niêm mạc và da; tăng sức đề kháng của cơ thể, chống lại các bệnh nhiễm trùng.

- Thức ăn có nguồn gốc động vật có nhiều vitamin A như trứng, sữa, cá, thịt, gan lợn, bầu dục, tôm…

- Thức ăn có nguồn gốc thực vật như rau có màu xanh đậm (ngót, muống, dền, diếp, xà lách…) và các loại củ quả có màu vàng, da cam (gấc, cà rốt, bí đỏ, quả chín như xoài, đu đủ, hồng…) có chứa nhiều beta caroten – là tiền chất của vitamin A, khi vào cơ thể tạo thành vitamin A.

- Để hấp thu tốt vitamin A có trong thức ăn, trong bữa ăn hàng ngày cần phải có dầu/mỡ vì vitamin A là loại vitamin tan trong dầu. Ngoài ra, dầu/mỡ là thức ăn rất giàu năng lượng làm tăng chất lượng bữa ăn, làm thức ăn mềm hơn để trẻ dễ nuốt.

4.2. Vitamin C: Tham gia vào rất nhiều chức năng sinh lý bảo đảm cho sự phát triển và hoạt động của cơ thể; làm tăng sức đề kháng, giúp cơ thể phòng chống bệnh tật, nhất là các bệnh nhiễm trùng; tham gia vào quá trình tạo máu…
Là một loại vitamin tan trong nước, vitamin C dễ bị phân hủy bởi nhiệt độ cao hoặc ánh sáng mặt trời. Vitamin C có nhiều trong các loại rau xanh như bắp cải, cải cúc, cần tây, rau dền, rau ngót, rau muống, hành lá, cần tây… và trong các loại quả có vị chua như bưởi, ổi, quýt, cam, chanh…

Để giữ được vitamin C trong thức ăn, nên:

- Sử dụng rau, quả tươi ngay sau khi thu hoạch. Sử dụng rau quả đúng mùa.

- Bảo quản rau, quả trong tủ lạnh khi chưa sử dụng.

- Nên chọn lọc, tạo cơ hội để trẻ ăn 1 số trái cây cả vỏ, vì vitamin C có rất nhiều trong lớp vỏ của trái cây.

- Hấp rau, củ là biện pháp tốt nhất để giữ được vitamin C.

- Nấu rau củ vừa chín tới để giảm sự phân hủy vitamin C.

4.3. Vitamin B1: Tham gia vào các quá trình chuyển hoá của cơ thể, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất bột đường và đặc biệt có tác dụng bảo vệ và tăng cường hoạt động của hệ thần kinh.

Vitamin B1 là loại vitamin tan trong nước, rất dễ bị phân huỷ khi chế biến, nấu nướng, mặt khác cơ thể không có khả năng dự trữ nhiều vitamin B1 vì vậy cơ thể dễ bị thiếu. Khi bị thiếu vitamin B1 sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.

Trẻ thiếu vitamin B1 thường ăn kém ngon, chậm lớn. Thiếu lâu ngày có thể bị bệnh tê phù, đau nhức chân tay, thậm chí nếu thiếu nặng còn có thể bị suy tim.
Vitamin B1 có nhiều trong ngũ cốc (gạo, mì, ngô…),các loại đậu đỗ, trứng, thịt nạc…
4.4. Vitamin D và can xi:

- Vitamin D giúp cơ thể sử dụng tốt can xi, phốt pho để hình thành và duy trì hệ xương và răng vững chắc.

Khi thiếu vitamin D, sự hình thành xương bị trở ngại và là nguyên nhân chủ yếu của bệnh còi xương ở trẻ em.

- Can xi là thành phần thiết yếu của tổ chức xương và răng. Nhu cầu can xi ở trẻ em rất cao vì cần cho quá trình cốt hóa, phát triển chiều cao. Can xi còn tham gia vào quá trình đông máu, điều hòa hoạt động thần kinh, hoạt động của cơ bắp…
Thực phẩm giàu can xi là sữa và các chế phẩm của sữa (bơ, pho mát), một số loại ngũ cốc (hạt lúa mì, ngô, mạch) đậu đỗ, tôm, cua, cá, một số loại rau có màu xanh thẫm.

Trong cơ thể, chuyển hóa can xi liên quan với protein và natri, hai chất này làm tăng đào thải can xi qua nước tiểu. Vì vậy, chế độ ăn quá nhiều chất đạm hoặc quá nhiều muối, nếu không đảm bảo đủ can xi sẽ làm can xi bị đào thải qua nước tiểu, làm tăng nguy cơ loãng xương.

5. Nước

5.1. Vai trò của nước

Nước rất cần thiết đối với sức khoẻ con người. Nước chiếm 74% trọng lượng trẻ sơ sinh, 55% đến 60% cơ thể nam trưởng thành, 50% cơ thể nữ trưởng thành. Nước cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến các phản ứng, các quá trình chuyển hoá quan trọng trong cơ thể. Để tiêu hóa, hấp thu, sử dụng tốt thực phẩm cần phải có nước. Ngoài ra, nước còn giúp đào thải các chất độc hại ra ngoài cơ thể qua nước tiểu, mồ hôi.

5.2. Những loại nước uống tốt cho sức khoẻ của trẻ:

- Nên tự đun sôi nước sạch để nguội cho trẻ uống hàng ngày. Nếu sử dụng nước đóng chai thì phải chọn các hãng có uy tín trên thị trường.

- Nước ép trái cây tươi vừa cung cấp nước lại cung cấp các vitamin và khoáng chất có lợi cho cơ thể.

- Các loại nước ép từ rau củ như: củ đậu, bí xanh, nước rau má…cũng rất tốt cho cơ thể nhất là đối trẻ bị thừa cân – béo phì vừa không sợ bị tăng cân, mà còn có tác dụng giải nhiệt nhất là trong những ngày hè nóng bức.

- Nước rau luộc: cũng rất tốt cho cơ thể vì cung cấp các vitamin tan trong nước và khoáng chất.

5.3. Những loại nước uống nên hạn chế và không nên dùng ở trẻ:

- Nước khoáng: Là nước uống có chứa các chất khoáng như natri, kali, can xi, magie…Các loại nước khoáng do chứa thêm các chất khoáng nên phải dùng đúng lúc, đúng đối tượng. Ở trẻ nhỏ, không được dùng loại nước khoáng có chứa hàm lượng khoáng cao để pha sữa vì chức năng thận của trẻ còn yếu không đào thải được chất khoáng dư thừa, sẽ tích lũy lại trong cơ thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Các loại nước ngọt có ga: nên hạn chế dùng vì có thể gây thừa cân – béo phì, hoặc làm cho trẻ đầy bụng, biếng ăn và cung cấp calo rỗng (không có chất dinh dưỡng).
- Các loại nước quả ép công nghiệp: Hạn chế vì có nhiều đường, ít chất khoáng và vitamin. Nếu uống nhiều dẫn đến thừa cân – béo phì.

- Cà phê, các loại nước tăng lực: Không nên dùng cho trẻ.

4. Nguyên tắc xây dựng khẩu phần ăn cho trẻ

- Bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết với tỷ lệ cân đối và hợp lý.

- Bữa ăn cần đảm bảo nhu cầu của cơ thể không chỉ về số lượng năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết mà các chất đó còn tồn tại trong mối tương quan cân đối và hợp lý.

- Đảm bảo tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng. Mỗi bữa không chỉ cần có đủ các nhóm thực phẩm mà ngay trong cùng nhóm thực phẩm cũng nên thay thế nhiều loại khác nhau kể cả thịt, ngũ cốc hay rau quả. Các món ăn cần phong phú về màu sắc, mùi vị, nấu nướng ở nhiệt độ thích hợp.

- Xây dựng thực đơn trong thời gian dài, ít nhất 7-10 ngày nhằm giúp cho việc điều hòa khối lượng thực phẩm và tổ chức công việc chế biến…

- Số bữa ăn và giá trị năng lượng của từng bữa dựa theo yêu cầu của từng độ tuổi.
- Thể tích, mức dễ tiêu, giá trị năng lượng của các bữa ăn: Cần chú ý đến thể tích và mức dễ tiêu của các bữa ăn tỷ lệ với giá trị năng lượng của chúng .

III. Vai trò của sữa đối với sự phát triển của trẻ

Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ nhỏ. Để trẻ khỏe mạnh và phát triển toàn diện, hãy cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho trẻ bú mẹ đến 18 – 24 tháng.

Từ 7 tháng tuổi trở lên, ngoài sữa mẹ, trẻ cần có một chế độ ăn bổ sung hợp lý, đầy đủ chất dinh dưỡng. Cùng với chế độ ăn, sữa công thức hay thực phẩm dinh dưỡng bổ sung vi chất góp phần đáp ứng nhu cầu khuyến nghị hàng ngày cho trẻ.

Sữa là nguồn cung cấp các chất dinh dưỡng tốt cho cơ thể đặc biệt là trẻ em. Trong sữa chứa những chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển toàn diện của cơ thể trẻ.

Các nhà khoa học đã chứng minh sữa có hơn 400 dưỡng chất quan trọng giúp cung cấp năng lượng và nuôi dưỡng cơ thể. Sữa cung cấp đủ 4 nhóm chất dinh dưỡng là chất đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và nhiều khoáng chất giúp cơ thể trẻ tăng trưởng, phát triển và khỏe mạnh.

Chất đạm: có vai trò quan trọng trong quá trình duy trì và phát triển của cơ thể, hỗ trợ trẻ phát triển kĩ năng vận động và củng cố cơ bắp, giúp chuyển hóa các chất dinh dưỡng. Chất đạm trong sữa có chất lượng sinh học cao, dễ hấp thu. Khi đạm sữa kết hợp với canxi và phot pho có trong sữa sẽ làm cho hệ xương, răng của trẻ sẽ phát triển tốt.

Canxi sữa dễ hấp thu. Không chỉ giúp trẻ có khung xương chắc khỏe, canxi sữa còn kết hợp với vitamin B12 trong sữa giúp cơ thể tăng sức đề kháng. Ngoài ra, trong sữa còn có vitamin D, phốt pho, là những chất giúp xương chắc khỏe.

Sữa là môi trường tuyệt vời giúp các dưỡng chất trong sữa kết hợp hài hòa với nhau, hỗ trợ nhau phát huy tác dụng, mang lại tác dụng cộng hợp có lợi cho sức khỏe và phát triển của trẻ em.

Sữa cũng là nguồn cung cấp năng lượng giúp trẻ năng động và khỏe mạnh.

IV. Biện pháp phòng chống một số bệnh ở trẻ em có liên quan đến dinh dưỡng

1. Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng đối với sức khỏe

- Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể cần một lượng rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của cơ thể, khi thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho cơ thể. Vi chất dinh dưỡng bao gồm các vitamin và các khoáng chất.

- Thiếu vi chất dinh dưỡng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể lực và trí lực, làm giảm khả năng lao động sau này. Ví dụ: thiếu vitamin A gây mù lòa, thiếu iod gây bệnh bướu cổ, đần độn,thiếu sắt gây thiếu máu dinh dưỡng…
Các biện pháp phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng:

- Đa dạng hóa bữa ăn bằng cách phối hợp 15 – 20 loại thức ăn từ 4 nhóm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày. Tăng cường sử dụng các loại thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng.

- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Cho trẻ ăn bổ sung hợp lý, ưu tiên sử dụng các thực phẩm sẵn có tại địa phương.

- Không bắt trẻ ăn kiêng khem khi trẻ bị bệnh.

- Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình lựa chọn, chế biến và bảo quản thức ăn cho trẻ.

- Cho trẻ em trong độ tuổi (theo qui định) uống Vitamin A một năm 2 lần. Bà mẹ ngay sau khi sinh con cần được uống một liều vitamin A trong vòng 1 tháng sau sinh.
- Tẩy giun 2 lần một năm cho trẻ em từ 24 – 60 tháng tuổi, thực hiện vệ sinh môi trường, vệ sinh ăn uống để phòng chống nhiễm giun.

- Phụ nữ mới kết hôn, bà mẹ trước và trong khi mang thai cần ăn, uống đầy đủ và uống thêm viên sắt/ axit folic hoặc viên đa vi chất theo hướng dẫn.

- Sử dụng muối I-ốt hoặc bột canh I-ốt trong chế biến thức ăn.

2. Phòng chống bệnh thiếu máu do thiếu sắt ở trẻ em

Thiếu máu do thiếu sắt rất hay gặp ở trẻ em Việt Nam do chế độ ăn còn nghèo chất đạm hoặc khẩu phần ăn không cân đối.

Để phòng chống bệnh thiếu máu thiếu sắt nên:

- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18 – 24 tháng.
- Cho trẻ ăn bổ sung khi tròn 6 tháng tuổi, ăn đủ 4 nhóm: bột đường, đạm, béo, vitamin và chất khoáng.

- Thực hiện đa dạng hoá bữa ăn. Để đảm bảo cung cấp đủ chất sắt cho nhu cầu cơ thể cần cho trẻ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, nhiều loại thức ăn khác nhau, đặc biệt là thức ăn có nguồn gốc động vật giàu sắt, giàu vitamin C.

Có thể chia nguồn sắt từ thức ăn ra 2 loại chính :

+ Những thức ăn có nguồn gốc động vật: Trong các phủ tạng động vật như gan lợn, gan gà, bầu dục lợn, bầu dục bò, tim lợn, mề gà, thịt, cá, lòng đỏ trứng, cua đồng, tôm khô…có nhiều sắt chất lượng cao, dễ được hấp thu và sử dụng.

+ Những thức ăn có nguồn gốc thực vật như : Ngũ cốc, gạo, ngô, một số loại rau như rau đay, rau ngót, rau muống đậu đũa, cải xoong, cải bắp, súp lơ, cà chua, dưa chuột, đu đủ chín… có nhiều sắt tuy nhiên cơ thể khó hấp thu và sử dụng.
Một số loại rau quả có nhiều vitamin C có tác dụng hỗ trợ hấp thu sắt tốt hơn như cam, chanh, bưởi, xoài, rau xanh, cải bắp, cải xoong, cải thìa, rau mầm, súp lơ (bông cải), củ cải, hành tây, ớt ngọt, rau mùi, ổi…

3. Phòng bệnh còi xương cho trẻ

Còi xư­ơng là bệnh do thiếu vitamin D, là yếu tố cần thiết để hấp thu canxi, phốt pho cho hệ xương của trẻ phát triển. Bệnh còi xương do thiếu vitamin D còn gọi là bệnh còi xương dinh dưỡng, là một bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ 6 đến 36 tháng tuổi, là lứa tuổi mà hệ xương đang phát triển mạnh.
Khi vitamin D có trong thức ăn vào cơ thể của trẻ, mới được gọi là “tiền vitamin D”. Chất này nằm rải rác dưới da. Tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời chiếu vào da sẽ chuyển “tiền vitamin D” thành vitamin D thực sự. Do đó, muốn có vitamin D trong cơ thể, ngoài việc ăn các thực phẩm có nhiều vitamin D cần phải cho cơ thể tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

Để phòng bệnh còi xương ở trẻ em cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

- Cho trẻ bú mẹ ngay sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, vì sữa mẹ có hàm lượng vitamin D cao hơn rất nhiều lần so với sữa bột.

- Ăn bổ sung từ tháng thứ 7

+ Thức ăn bổ sung là các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng, đảm bảo đủ về mặt số lượng và đa dạng thực phẩm.

+ Chế độ ăn bổ sung cần đầy đủ các chất dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu năng lượng khuyến nghị theo độ tuổi của trẻ.

+ Tăng cường thực phẩm giàu Vitamin D như gan động vật, gan cá – nhất là gan cá thu, trứng, bơ…

- Không nên cho trẻ ăn bột quá sớm.

- Cho trẻ tắm nắng hằng ngày. Mỗi ngày, cho trẻ tắm nắng khoảng 15 – 20 phút. Nên tắm nắng từ ngay tuần đầu sau sinh, vào buổi sáng, lúc mặt trời mới lên. Trong lúc tắm nắng, nên cởi bỏ tã lót, quần áo để cho da của trẻ được tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời…chỉ cần giữa ấm cổ, ngực nếu trời lạnh.

4. Lời khuyên về dinh dưỡng khi trẻ bị ốm

Khi bị bệnh, cơ thể trẻ cần nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng để giúp cơ thể chống lại bệnh tật. Tuy nhiên giai đoạn này trẻ thường ăn không ngon miệng, chán ăn nên dinh dưỡng không đảm bảo, vì vậy trẻ dễ bị giảm cân, nguy cơ suy dinh dưỡng cao.

* Trong giai đoạn trẻ bị bệnh nên thực hiện những lời khuyên sau đây:

- Cho trẻ ăn các thức ăn dễ tiêu hóa (cháo, bột…), ăn những loại đạm tinh, dễ tiêu (thịt nạc, thịt gà nạc…) và đảm bảo đủ năng lượng.

- Chia nhiều bữa ăn trong ngày, số lượng mỗi lần ăn ít hơn bình thường.
- Chế độ ăn giàu đạm, vitamin và khoáng chất

- Để trẻ dễ ăn, làm loãng thức ăn bằng cách trộn giá đỗ vào thức ăn thì vẫn đảm bảo đủ năng lượng.

- Kiên trì, khuyến khích trẻ ăn, uống.

- Cho trẻ ăn những thức ăn mà trẻ thích

* Trong giai đoạn hồi phục, cần bổ sung dinh dưỡng để trẻ tăng cân trở lại và đạt mức tăng trưởng bình thường bằng cách:

- Tăng thêm số bữa ăn.

- Tăng số lượng mỗi bữa.

- Tăng thức ăn giàu năng lượng.

5. Lời khuyên về dinh dưỡng đối với trẻ bị thừa cân – béo phì

Đối với trẻ thừa cân – béo phì cần có chế độ ăn phù hợp, không nên đặt mục tiêu giảm cân lên hàng đầu. Bữa ăn của trẻ phải cân đối hợp lý, đáp ứng nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng như can xi, sắt, kẽm…Duy trì cân nặng hiện tại hoặc tăng cân ít hơn so với mức tăng cân trung bình theo tuổi, tăng cường phát triển chiều cao. Trong khẩu phần, chú trọng việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho sự phát triển toàn diện của trẻ, chỉ giảm năng lượng chút ít (nếu cần thiết), gia tăng năng lượng tiêu hao thông qua các hoạt động thể lực.

Những điều nên làm:

- Thực hiện đa dạng thực phẩm trong từng bữa ăn.

- Nên chế biến các món luộc, hấp, trộn sa lát…

- Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả ít ngọt và các thực phẩm nhiều chất xơ như ngô, khoai…
- Uống đủ nước, đủ sữa. Nên uống sữa không đường.

- Ăn đều đặn, không bỏ bữa. Nhai kỹ và chậm khi ăn.

- Ăn nhiều vào bữa sáng. Giảm ăn vào buổi chiều và tối.

Những điều nên tránh

- Không bắt trẻ nhịn đói, vì nếu bị quá đói, trẻ ăn nhiều trong các bữa sau làm mỡ tích lũy nhanh hơn.

- Hạn chế ăn các thực phẩm chế biến sẵn (thịt hộp, xúc xích,..), các loại bánh kẹo, đường mật, kem, sữa đặc có đường và các thực phẩm giàu chất béo và cholesterol (thịt mỡ, bơ, phủ tạng động vật…)

- Tránh cho trẻ nhai kẹo cao su làm cho trẻ lúc nào cũng muốn nhai

- Khi chế biến thức ăn, hạn chế các món quay, xào

- Không nên ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.

- Hạn chế cho thêm đường vào thực phẩm, nước uống. Không nên uống nước ngọt có ga.

V. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm trong các cơ sở giáo dục mầm non

1. Những yêu cầu cần thực hiện để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm
Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm khi tổ chức ăn cho trẻ, người chế biến thực phẩm, chia thức ăn cần thực hiện các yêu cầu sau:

- Thực hiện rửa tay theo qui định:

+ Rửa tay sau khi: Đi vệ sinh, tiếp xúc với thực phẩm sống, chạm tay vào rác, sau mỗi lần nghỉ…

+ Rửa tay trước khi: Chế biến, tiếp xúc với thực phẩm, chia thức ăn cho trẻ
+ Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch. Tuân thủ đúng các bước theo quy định
- Mặc quần áo bảo hộ lao động

- Không để móng tay dài

- Không ăn uống, hút thuốc trong khi làm việc

- Không khạc, nhổ trong khu vực nấu nướng.

2. Lời khuyên để có thức ăn an toàn

- Giữ vệ sinh: vệ sinh bàn tay, dụng cụ chế biến thực phẩm, dụng cụ đựng thực phẩm.
- Để riêng thực phẩm sống và thực phẩm chín, thực phẩm cũ và thực phẩm mới.
- Chế biến thực phẩm đúng cách. Nấu chín thức ăn.

- Bảo quản thực phẩm ở nhiệt độ an toàn.

- Sử dụng nước sạch và thực phẩm an toàn: nhà trường nên ký hợp đồng mua thực phẩm sạch với một đơn vị có uy tín hoặc sử dụng thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng (vận động phụ huynh có thực phẩm an toàn bán cho nhà trường, tổ chức mô hình vườn – ao – chuồng nếu có điều kiện…)

3. Nguyên tắc lưu mẫu thức ăn

- Mục đích: Lưu mẫu thức ăn nhằm phục vụ cho quá trình điều tra nếu xảy ra ngộ độc thực phẩm.

- Đảm bảo 3 đủ

+ Có đủ dụng cụ để lưu mẫu, dụng cụ phải được rửa sạch, khử trùng, có nắp đậy.

Mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng.

+ Có đủ lượng mẫu tối thiểu: Thức ăn đặc khoảng 150 gam, thức ăn lỏng khoảng 250 ml.

+ Đủ thời gian lưu mẫu là 24 giờ. Mẫu lưu bảo quản ở ngăn mát tủ lạnh (00C đến 50C).
- Lưu ý: Người lưu mẫu cần ghi đầy đủ ngày, giờ, tên người lấy mẫu thức ăn và niêm phong. Khi có ngộ độc thực phẩm xảy ra vẫn phải giữ niêm phong, chỉ mở khi có sự chứng kiến của các cơ quan chức năng.

 

 

                                                                                     Người viết

 

 

 

Nguyễn Thị Hồng Quyên